Để thực hiện dự án vệ sinh môi trường TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2, Nhà nước phải đi vay 450 triệu USD, lãi suất 1 năm phải trả cho khoản vay là 13,5 triệu USD (tương đương 300 tỷ đồng). Thế nhưng, chủ đầu tư dự án này vẫn kéo dài thời gian triển khai gây lãng phí nguồn vốn vay.

Trong bối cảnh nợ công Việt Nam tăng cao, Nhà nước vẫn phải chấp nhận đi vay vốn để có tiền thực hiện các dự án cải tạo hạ tầng. Với mục đích cải thiện, nâng cao chất lượng sống cho người dân Thành phố, năm 2012, lãnh đạo TP. Hồ Chí Minh đã phê duyệt dự án đầu tư vệ sinh môi trường TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2 (VSMT TPHCM giai đoạn 2), bao gồm xây dựng tuyến cống bao từ giếng Bờ Đông (sông sài Gòn) đến Nhà máy xử lý nước thải Nhiêu Lộc – Thị Nghè tại quận 2 dài khoảng 8km (hợp phần 1); xây dựng nhà máy xử lý nước thải kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè công suất 480.000m3/ngày (hợp phần 2); xây dựng mạng lưới cống thoát nước cấp hai, ba và hệ thống đấu nối hộ gia đình tại quận 2 (hợp phần 3).

Dự án do Ban Quản lý đầu tư dự án Vệ sinh môi trường TP. Hồ Chí Minh làm chủ đầu tư, được thực hiện dưới hình thức hợp đồng DBO (Thiết kế – Xây dựng – Vận hành) với tổng vốn đầu tư 524 triệu đô la Mỹ (trong đó vốn vay ODA từ Ngân hàng Thế giới là 450 triệu đô la Mỹ, còn lại là vốn đối ứng của TP. Hồ Chí Minh). Trong tổng số 450 triệu USD vốn vay, 200 triệu USD vay dưới hình thức trả lãi thường 0,75%/năm và 250 triệu USD vay lãi suất 4,8%/năm. Như vậy, tính sơ bộ, mỗi năm Nhà nước phải trả lãi 300 tỷ  đồng/năm (khoảng 13,5 triệu USD/năm).

Kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè là một phần trong dự án cải tạo vệ sinh môi trường mà WB tài trợ tín dụng cho TP. Hồ Chí Minh

Kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè là một phần trong dự án cải tạo vệ sinh môi trường mà WB tài trợ tín dụng cho TP. Hồ Chí Minh

Chính vì tính cấp thiết của dự án, Lãnh đạo thành phố đã xin Chính phủ nhiều cơ chế đặc thù riêng cho dự án như cho phép Thành phố được phê duyệt kế hoạch đấu thầu cho hạng mục Nhà máy xử lý nước thải Nhiêu Lộc – Thị Nghè như là một gói thầu duy nhất để Thành phố có cơ sở pháp lý triển khai công tác sơ tuyển cho hạng mục này… Điều quan trọng, việc triển khai dự án này không phải chậm do việc giải phóng mặt bằng, hơn nữa nguồn vốn để thực hiện dự án cũng đã có sẵn do hiệp định vay vốn ODA với ngân hàng thế giới đã ký kết từ ngày 10/7/2015.

Tuy nhiên, không hiểu vì lý do gì chủ đầu tư dự án này vẫn chậm triển khai? Theo tìm hiểu của PV, một trong những nguyên nhân dẫn đến chậm tiến độ là lỗi của chủ đầu tư trong quá trình lựa chọn nhà thầu.

Theo nguồn tin riêng của PV, Tiểu dự án hỗ trợ kỹ thuật vệ sinh môi trường thành phố (gọi tắt là dự án PPTAF, là dự án chuẩn bị cho dự án VSMT thành phố giai đoạn 2) bao gồm 8 gói thầu, trong đó 5 gói thầu đã được thực hiện xong. Hiện chỉ còn 3 gói thầu chính đang thực hiện gồm: Gói PP04 – tư vấn chuẩn bị thiết kế tham khảo và lập hồ sơ mời thầu cho nhà máy xử lý nước thải; gói thầu PP03 – tư vấn thiết kế chi tiết và lập hồ sơ mời thầu thi công tuyến cống bao; gói thầu PP01 – tư vấn thiết kế chi tiết và lập hồ sơ mời thầu thi công hệ thống cống cấp 2, cấp 3 cho quận 2.

Trong đó, gói thầu PP04 đã được ký với nhà thầu CEEM  (Consultants For Environmental) trị giá khoảng 1.099.000 USD.

Theo hợp đồng đã ký, đến tháng 6/2015, việc thi công gói thầu PP04 phải hoàn thành nhưng khối lượng công việc vẫn dở dang. Vì chậm tiến độ, phía tư vấn CEEM đã có đề xuất gia hạn tiến độ để bù đắp lại thời gian chậm do các lỗi khách quan từ 2 phía. Theo giải thích của nhà thầu CEEM, nếu ban quản lý vẫn chấp thuận cho làm tiếp thì thời gian thực hiện phần việc còn lại chỉ mất khoảng 3 tháng. Xong, nếu thay nhà thầu mới thì phải mất khoảng 17 tháng mới hoàn thành vì riêng thời gian chọn lại nhà thầu mất 6 tháng.

Tuy nhiên, ban quản lý dự án đã không đồng ý với đề xuất trên và báo cáo UBND TP. Hồ Chí Minh cho phép không gia hạn với nhà thầu này vì cho rằng nhà thầu này không đủ năng lực.

Sau khi được UBND TP. Hồ Chí Minh chấp thuận, Ban quản lý dự án đã tiến hành đàm phán và tất toán với nhà thầu CEEM với giá trị thanh toán cho nhà thầu này là 65% giá trị hợp đồng đã ký kết.

Ngay sau đó, tháng 12/2015, Ban quản lý dự án đã ký kết hợp đồng với nhà thầu mới Nippon Kioe với phần việc còn lại tương đương với 35% giá trị hợp đồng với khoảng 720 nghìn USD và thời gian thực hiện hợp đồng kéo dài là 11 tháng. Tuy nhiên, theo tính toán, 35% khối lượng công việc còn lại chỉ tương đương với 380 nghìn USD. Vậy, Ban quản lý đã căn cứ vào đâu để tính toán ký kết với nhà thầu Nippon Kioe giá trị 720 nghìn USD. Theo quy định của khoản 11, điều 117, nghị định 63/2014 NĐ-CP thì “giá trị phần khối lượng công việc chưa thực hiện giao dịch cho nhà thầu mới được tính bằng giá trị ghi trong hợp đồng trừ đi giá trị của phần khối lượng công việc đã thực hiện trước đó”. Như vậy, phần chênh lệch tương đương số tiền 7,3 tỷ đồng.

Câu hỏi đặt ra, vì sao chưa được sự đồng ý của các cơ quan chức năng nhưng Ban quản lý dự án đã vội vàng ký hợp đồng với nhà thầu Nipon Kioe. Phần tiền chênh lệnh của 35% giá trị gói thầu mà Ban quản lý đã ký được lấy từ nguồn tiền nào. Phải chăng lấy từ chính nguồn vốn vay ODA của dự án. Việc thất thoát, lãng phí này liệu có sự thông đồng với nhà thầu và ai sẽ là người chịu trách nhiệm việc này?

Để làm rõ các thông tin liên quan đến gói thầu, PV đang liên lạc với ông Vương Hải Long – Giám đốc Ban quản lý đầu tư dự án VSMT TP. Hồ Chí Minh, tuy nhiên vẫn chưa nhận được câu trả lời.

Phóng viên tiếp tục thông tin

Xem nhiều nhất

    Tin mới
      Blue stat