Bộ Tài chính khẳng định việc tính gộp các khoản đóng góp của doanh nghiệp như bảo hiểm xã hội, y tế, thất nghiệp và phí công đoàn dẫn tới cách hiểm tỉ lệ thu thuế/lợi nhuận của doanh nghiệp tại Việt Nam ở mức cao là chưa đúng.

Cụ thể, trước thông tin phản ánh về việc doanh nghiệp Việt Nam phải dành gần 40% lợi nhuận để nộp thuế là quá lớn, vượt quá mức chịu đựng của doanh nghiệp làm ảnh hưởng tới sức cạnh tranh và là một trong những nguyên nhân khiến số doanh nghiệp Việt Nam giải thể, dừng hoạt động tăng cao, ngày 28/2, Bộ Tài chính đã ra thông cáo cho rằng cách hiểu tỉ lệ thu thuế/lợi nhuận của doanh nghiệp tại Việt Nam ở mức cao là chưa đúng, cần phải được phân tích, tách bạch để có cách hiểu chính xác.

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Cụ thể, theo bộ này, đối với thuế, phí trong lĩnh vực tài chính, là khoản huy động của Nhà nước từ doanh nghiệp, cá nhân trong xã hội nhằm phục vụ tài chính cho các hoạt động của Nhà nước và mang tính chất hoàn trả gián tiếp.

Để so sánh tương quan giữa các quốc gia, thường sử dụng tiêu chí về tỉ lệ phần trăm giữa số huy động từ thuế, phí tính trên tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Theo Bộ Tài chính, việc xây dựng, tính toán số thu ngân sách ở Việt Nam có đặc thù cần lưu ý khi so sánh về mức độ động viên ngân sách của Việt Nam với các nước. Theo đó, số thu ngân sách từ thuế, phí của nhiều nước theo số liệu được tổ chức quốc tế tổng hợp và công bố thường chỉ là số thu của ngân sách của chính quyền Trung ương do hệ thống ngân sách của các nước này có sự độc lập giữa các cấp ngân sách. Trong khi đó, hệ thống ngân sách của Việt Nam bao gồm 4 cấp và số thu ngân sách được công bố, công khai hằng năm luôn bao gồm nguồn thu của tất cả 4 cấp này.

Ngoài ra, về các chỉ tiêu trong tổng thu cân đối ngân sách Nhà nước, theo phương thức thống kê thu ngân sách của Việt Nam thì nguồn thu từ dầu thô, từ quyền sử dụng đất, từ bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước cũng được tính chung vào nguồn thu ngân sách, trong đó riêng thu từ dầu thô đang được xếp vào khoản thu từ thuế như thu từ các sắc thuế khác. Tuy nhiên, theo Bộ Tài chính, xét về bản chất thì các khoản thu này không mang tính chất là khoản động viên từ nền kinh tế. Ở nhiều nước, các khoản thu này được xếp vào các nhóm khoản thu “từ vốn” (thu từ bán tài nguyên quốc gia) và không được tính vào nguồn thu ngân sách như là khoản động viên từ thuế, phí.

Do đó, để bảo đảm tính chính xác, phản ánh đúng thực tế thì việc so sánh cần phải dựa trên các tiêu chí đồng nhất và cùng bản chất. Theo số liệu thống kê, tỉ trọng tổng số thu ngân sách nhà nước trên GDP của Việt Nam giai đoạn năm 2011-2015 khoảng 23,3%, trong đó tỉ lệ động viên từ thuế, phí khoảng 20,9%. Trong khi tỉ trọng tổng số thu ngân sách nhà nước trên GDP của một số nước trong khu vực giai đoạn 2011-2015 như Thái Lan là 23%, Indonesia là 16,6%, Lào 23,4%, Malaysia là 24,5%, Ấn Độ là 19,5%…

Nếu chỉ so sánh riêng tỉ lệ huy động từ thuế, phí tính trên GDP, theo Bộ Tài chính, cần phải loại trừ các khoản thu có tính chất khác biệt, các khoản thu có bản chất “thu từ vốn” và không mang tính chất động viên từ hoạt động kinh tế.

Cụ thể, tính trong giai đoạn 5 năm từ 2011-2015, tỉ lệ động viên ngân sách từ thuế, phí (bao gồm cả thu từ dầu thô) ở Việt Nam khoảng 20,9% GDP. Nếu loại trừ thu từ dầu thô thì tỉ lệ động viên ngân sách từ thuế, phí tính chung ở Việt Nam khoảng 17,2% GDP. Nếu tiếp tục loại trừ thu từ tiền sử dụng đất thì tỉ lệ này vào khoảng 15,6%.

Ngoài ra, Bộ Tài chính cho biết tỉ lệ động viên của các sắc thuế chính ở mức thấp và đang được điều chỉnh theo xu hướng giảm dần. Ví dụ như thuế thu nhập doanh nghiệp được điều chỉnh giảm từ mức 32% năm 1999, 28% từ năm 2004 và 25% từ năm 2009 theo đúng chiến lược, lộ trình cải cách thuế.

Mức thuế suất phổ thông từ 2014 là 22% và từ 1/1/2016 xuống mức 20% và mức thuế suất ưu đãi là 10% và 17%. Nếu so với mức bình quân chung của 83 nước trên thế giới là 27%; so với một số nước trong khu vực có mức thuế suất phổ thông 30% như Philippines, Thái Lan; Trung Quốc 25%, Malaysia 25% thì mức thuế suất phổ thông của Việt Nam được đánh giá là thấp.

Hay như thuế thu nhập cá nhân, kể từ 1/1/2009, Luật thuế Thu nhập cá nhân có hiệu lực, theo đó thuế suất thuế thu nhập cá nhân được quy định các mức từ 5-35%, quy định mức giảm trừ gia cảnh cho người nộp thuế là 4 triệu đồng/tháng, cho mỗi người nộp thuế là 1.6 triệu đồng/tháng. Từ 1/7/2013, Luật số 26/2012/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế Thu nhập cá nhân tăng mức giảm trừ gia cảnh cho người nộp thuế lên 9 triệu đồng/tháng, cho mỗi người phụ thuộc lên 3,6 triệu đồng/tháng…

Ngoài ra, Bộ Tài chính cũng khẳng định các khoản đóng góp về bảo hiểm xã hội, y tế, thất nghiệp, kinh phí công đoàn không thuộc về khoản huy động tài chính của nhà nước. Đây là các khoản đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động nhằm bảo đảm các chính sách an sinh cho bản thân người lao động.

Mặt khác, công tác quản lý bảo hiểm xã hội, y tế hay kinh phí công đoàn được thực hiện bởi các cơ quan quản lý chuyên ngành (Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam…).

Để hỗ trợ doanh nghiệp trong việc thực hiện các chính sách về bảo hiểm xã hội, y tế cho người lao động, về phía Bộ Tài chính, trong việc xây dựng chính sách về tài chính đặc biệt là chính sách thuế, đã có quy định việc chi phí của doanh nghiệp để đóng góp bảo hiểm xã hội bắt buộc, y tế, thất nghiệp cho người lao động được tính vào khoản chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp; các dịch vụ bảo hiểm cũng không phải chịu thuế giá trị gia tăng.

T. Minh
Chia sẻ tin này qua email

Xem nhiều nhất

    Tin mới
      Blue stat