Thiết nghĩ giữa việc luật pháp Việt Nam chấp nhận việc một công dân Việt Nam có hai quốc tịch, trong đó quốc tịch nước ngoài là do một “tất yếu lịch sử bản thân” của công dân đó, với việc một công dân Việt Nam chính gốc 100% từ khi lọt lòng cho đến sau này, không có “dây mơ rễ má” hôn nhân, gia đình với một người mang quốc tịch nước ngoài, bỗng dưng có hai quốc tịch, là cả một sự khác biệt vô cùng to lớn.

Có quốc tịch thứ hai bằng cách “đầu tư” ở một nước “chọn lọc” nào đó với những khoản tiền không nhỏ theo quy định của nước sở tại đã làm dấy lên những câu hỏi: Không rõ số tiền đó đã được chuyển ngân bằng cách nào? Có được phép của các cơ quan liên quan hay không? Và nếu được phép thì trên cơ sở pháp lý nào?

Bà Nguyễn Thị Nguyệt Hường và câu chuyện hai quốc tịch

Bà Nguyễn Thị Nguyệt Hường và câu chuyện hai quốc tịch

Thật vậy, việc “đầu tư” để nhập quốc tịch nước ngoài là một trong những kênh dẫn đến quốc tịch thứ nhì đang rất phổ biến ở Việt Nam. Có những trang web rao rất cụ thể như sau: “Để vào “làm dân” xứ Malta: 1/ đóng góp 650.000 euro vào Quỹ phát triển của chính phủ; 2/ mỗi thành viên gia đình đóng góp bổ sung từ 25.000-50.000 euro (tùy đối tượng); 3/ đầu tư bổ sung 150.000 euro vào các công cụ đầu tư đã được duyệt; 4/ mua tài sản địa ốc tối thiểu là 350.000 euro”.

Nhờ vào những “đóng góp” như trên cho đất nước đó, nhà “đầu tư” sẽ được cấp: 1/ quốc tịch và hộ chiếu – 2/ quốc tịch cho các thân nhân trong tương lai – 3/ tự do sống, làm việc, học hành khắp châu Âu. Trang web này còn chiêu dụ “không còn nghi ngờ gì nữa các lợi ích đầy ý nghĩa của chương trình đầu tư cá nhân vào Malta” và không quên cảnh báo (cho thêm phần hấp dẫn) rằng “việc đầu tư này là dành cho các khách hàng có tài sản rất lớn; các nhà đầu tư và gia đình của họ sẽ cần phải đầu tư thường thì từ 1,2 triệu euro trở lên để có được quyền công dân”.

Đến đây, vấn đề cần đặt ra là Nhà nước Việt Nam quan niệm dứt khoát và công khai như thế nào về cái kiểu “đầu tư” ra nước ngoài như thế, mà từ khởi đầu đến kết cuộc không cho thấy một tí ti lợi ích nào cho quốc gia Việt Nam, trái lại chỉ hứa hẹn một sự thất thoát ngoại tệ mà giá trung bình là 1,2 triệu euro (trong ví dụ đầu tư ở Malta), chưa kể các chi tiêu, chí phí duy trì cuộc sống song tịch sau này.

Không có gì chua chát cho bằng cảnh các công dân chỉ mang một quốc tịch Việt Nam hàng ngày nhìn thấy Nhà nước than không đủ ngân sách chi cho đầu tư phát triển, nghe Nhà nước loay hoay với ý tưởng huy động 500 tấn vàng trong dân để lấp vào lỗ hổng ngân sách, song lại thấy hằng hà “đồng bào” của mình “ôm cầm sang thuyền khác” một cách ngon ơ. Ngon ơ từ nguồn tiền mà một nhóm người có được từ những cơ hội hốt bạc mà không phải ai cũng có được cho đến việc chuyển ngoại tệ lên đến con số bạc triệu euro, đô la ra nước ngoài…

Chính sự mông lung cho tới giờ phút này, mông lung trong cái vỏ bọc “đúng quy trình” đang tạo ra một sự phân hóa vô cùng nghiêm trọng, không chỉ giữa giàu và nghèo tiền bạc, mà là giữa “giàu và nghèo” trong cơ hội làm ăn, làm giàu. Khẩu hiệu “dân giàu, nước mạnh” không thể chỉ khu trú cho một nhóm người độc quyền có cơ hội làm giàu, phân phối cơ hội làm giàu… Ngay từ năm 2005, Ngân hàng Thế Giới (WB) đã cảnh báo trong Báo cáo công bằng và phát triển: “Cơ hội đồng đều tức là sự thành đạt của một người phải do các nỗ lực, chọn lựa và tài năng của người ấy, chứ không do những hoàn cảnh có sẵn trước đó của họ”.

Còn gì phẫn nộ hơn khi liên tưởng đến hoàn cảnh của hàng triệu người Việt Nam mà WB Việt Nam mô tả trên Facebook của họ hôm 21-6-2016: “Hệ thống hộ khẩu hiện nay đang tạo ra bất bình đẳng cơ hội cho người dân Việt Nam, theo một nghiên cứu mới của chúng tôi. Vì vậy, cần có các cải cách hơn nữa để đảm bảo là người nhập cư có được khả năng tiếp cận trường học, chăm sóc y tế và việc làm ở khu vực công như những người khác”… so với nhóm “song tịch” đang đầu tư đóng góp vào quỹ phát triển ở xứ người!

Theo Danh Đức/ Thesaigontimes

Xem nhiều nhất

    Tin mới
      Blue stat